Dạy học theo quan điểm giao tiếp
Bản chất của việc người nước ngoài học tiếng Việt là hoạt động thụ đắc ngôn ngữ thứ hai
Nói về việc thụ đắc ngôn ngữ, rõ ràng, đối với ngôn ngữ thứ hai, người học sẽ tiếp thu, tiếp nhận với tốc độ nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Do đó, những lí luận về mặt khoa học là cơ sở để cải thiện và nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ngôn ngữ thứ hai.
Nói về việc thụ đắc ngôn ngữ, rõ ràng, đối với ngôn ngữ thứ hai, người học sẽ tiếp thu, tiếp nhận với tốc độ nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Do đó, những lí luận về mặt khoa học là cơ sở để cải thiện và nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ngôn ngữ thứ hai.
Tiến trình tiếp thu ngôn ngữ thứ hai có nhiều điểm khác biệt so với ngôn ngữ thứ nhất. Sở dĩ, ngôn ngữ thứ nhất được người học tiếp nhận một cách rất dễ dàng bởi nó đã được truyền vào tư duy não bộ trong môi trường giao tiếp với tiếng bản ngữ và chưa có một dấu ấn ngôn ngữ nào bất kì trước đó, tránh những mâu thuẫn hay áp đặt, thay đổi diễn ra. Do đó, môi trường học tập được xem trọng khi bắt đầu học ngoại ngữ bởi đó chính là mục đích, điều kiện để khả năng thực hành tiếng được trau dồi. Đa phần, việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai gặp trắc trở là do thiếu môi trường giao tiếp ngôn ngữ thứ hai. Thực tế này là một gợi ý quan trọng để xây dựng bài tập rèn luyện sử dụng câu tiếng Việt cho học sinh nước ngoài. Hệ thống bài tập phải đưa vào những ngữ cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp chân thực, sinh động, gần gũi, bám sát những hoạt động học tập, sinh hoạt, giao lưu đời thường khi các em học sinh nước ngoài du học tại Việt Nam. Giá trị của hệ thống bài tập cũng theo đó mà được nâng lên nhiều phần, tránh việc luyện tập lí thuyết, xa rời thực tế. Theo tiến sĩ Vũ Lan Hương, “quá trình dạy học ngoại ngữ nên theo mô hình của giao tiếp thực trong cuộc sống hàng ngày (lời nói/ khẩu ngữ), tình huống giao tiếp khi học tập càng giống tình huống giao tiếp ngoài đời bao nhiêu, các kĩ năng lời nói hình thành ở người học càng dễ chuyển di từ lớp học ra ngoài cuộc sống bấy nhiêu”. Kết luận này đã gợi dẫn chúng tôi đến những ý tưởng về việc xây dựng hệ thống bài tập có tình huống bài tập câu ngoài môi trường trường học thì có thêm một số môi trường khác như khu vui chơi, chợ, siêu thị, nhà sách, bệnh viện, các cơ quan hành chính khác như đại sứ quán, văn phòng du học,… để biến mỗi bài tập luyện tập là cơ hội để học sinh tập diễn đạt, trình bày, hỏi, trả lời, thể hiện cảm xúc bằng câu tiếng Việt đúng cả về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đặc biệt, cái khó của việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai chính là việc sử dụng ngôn ngữ thứ hai như người bản ngữ. Để làm được điều này, buộc hệ thống bài tập câu phải chú ý tạo ngữ liệu mang đậm tính văn hóa giao tiếp với những thói quen tư duy, phát ngôn của người Việt.
Thêm nữa, Krashen – một chuyên gia nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai còn cho rằng “con người thụ đắc ngoại ngữ theo một trật tự tự nhiên”, người học ngôn ngữ thứ hai thụ đắc các cấu trúc ngữ pháp theo một thứ tự được tiên đoán trước. Vì thế, kiến thức đầu vào và sự tương tác là hai tiến trình được người học thực hiện đồng thời khi làm bài luyện tập câu. Đây chính là chìa khóa khi thiết kế chương trình học bởi việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đòi hỏi sự hỗ trợ của người dạy trong việc cung cấp kiến thức, phát hiện và chỉnh sửa lỗi sai. Krashen còn nhấn mạnh sản phẩm đầu ra – thực hành phát ngôn bằng lời nói, văn viết thậm chí quan trọng hơn cả kiến thức đầu vào. Vấn đề mà ông nhấn mạnh có nghĩa việc giao tiếp xã hội bằng các phương thức nghe, nói, đọc, viết giống như các tình huống và ngữ cảnh xảy ra trong cuộc sống thường nhật là nền tảng cơ bản phục vụ cho việc phát triển các quy tắc ngôn ngữ. Từ thực tế, các em học sinh rút ra được các quy tắc ngữ pháp câu, các kiểu câu có giá trị nghĩa tương đương nhau để từ đó linh hoạt thay đổi kiểu câu trở nên đa dạng, phong phú. Để củng cố thêm quan điểm về tầm quan trọng của việc tạo dựng hệ thống bài tập luyện kĩ năng sử dụng câu tiếng Việt nhằm mục tiêu giao tiếp, chúng tôi xin dẫn ra ý kiến của tiến sĩ Vũ Lan Hương: “Ngữ pháp, vì thế, nên là ngữ pháp của lời nói, được hiện thực hóa trong hội thoại/ tình huống, dựa trên các ngữ liệu thực tế và hướng người đọc tới mục đích giao tiếp cụ thể”. Và dưới góc nhìn của chuyên gia nước ngoài về việc luyện tập sử dụng câu khi dạy và học ngoại ngữ thứ hai, Ellis đã nêu ra 10 nguyên tắc trong đó có điều sau: “Việc dạy cần đảm bảo rằng người học được phát triển một vốn kiến thức phong phú bao gồm các cách diễn đạt theo công thức và các qui tắc phát triển năng lực; Việc dạy cần đảm bảo rằng người học tập trung chủ yếu vào nghĩa (nghĩa của những đơn vị từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp và nghĩa dụng học – nghĩa được ngữ cảnh hóa cao, nảy sinh từ các hành động giao tiếp); Việc dạy thành công đòi hỏi cơ hội sản sinh ngôn ngữ; Khi đánh giá sự thành thạo ngoại ngữ của người học, cần kiểm tra các sản phẩm thực hành tự do lẫn các sản phẩm thực hành có kiểm soát. Trong việc tiếp thu ngôn ngữ thứ hai, ngoài tầm quan trọng của từ vựng như bất kì người học ngoại ngữ nào cũng thừa nhận, ngữ pháp giao tiếp thực sự cần được chú trọng bởi nó là một bộ phận giúp người nói, viết có thể diễn đạt trọn vẹn một ý. Theo đó, bài tập rèn luyện câu theo quan điểm giao tiếp được xây dựng dựa trên định hướng dạy học ngữ pháp giao tiếp cho người học ngoại ngữ.
Như vậy, việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai yêu cầu người học phải hiểu và xử lí những cấu trúc ngữ pháp cụ thể khi tiếp nhận ngữ liệu đầu vào và sản sinh các phát ngôn khi thực hiện nhiệm vụ. Từ việc tiếp nhận và sản sinh câu, học sinh đồng thời tiến hành ghi nhớ cấu trúc ngữ pháp trong bối cảnh vừa thực hiện nhiệm vụ.

