← Góc chuyên môn

Văn hóa giao tiếp người Việt

Diễn đạt câu phù hợp với thói quen giao tiếp và văn hóa của người Việt

Để ý vào thói quen diễn đạt của người Việt, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngữ pháp câu có một số đặc điểm nổi bật ở trật tự thành phần và cấu trúc câu. Theo khảo sát của PGS.TS. Hoàng Kim Ngọc, câu tiếng Việt sử dụng nhiều động từ, ít dùng danh từ.

Để ý vào thói quen diễn đạt của người Việt, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngữ pháp câu có một số đặc điểm nổi bật ở trật tự thành phần và cấu trúc câu. Theo khảo sát của PGS.TS. Hoàng Kim Ngọc, câu tiếng Việt sử dụng nhiều động từ, ít dùng danh từ.

Trong câu, các từ “sự, việc” sẽ hiếm khi có mặt trong câu nói của người Việt Nam. Chẳng hạn, người Việt thường nói “Chạy là một hoạt động thể thao rất tốt cho sức khỏe.” thay vì nói “Hoạt động chạy rất tốt cho sức khỏe.” Thói quen này kéo theo cấu trúc câu chủ động luôn được người Việt ưu tiên sử dụng trong các hoạt động giao tiếp bằng lời hay văn bản. Ví dụ, khi kể về sự việc đi cắt tóc của mình, người Việt sẽ nói “Tôi đi cắt tóc ở tiệm Phong Lan” thay vì “Mái tóc của tôi được cắt ở tiệm Phong Lan”. Thêm nữa, thực tế ghi nhận mật độ cấu trúc nhân quả được sử dụng nhiều trong các câu. Bộ phận câu mang thông tin lí do được trình bày trước và nội dung kết quả sự việc thường được đề cập phía sau. Hai nội dung thông tin này có thể cùng xuất hiện trong một câu dưới hình thức câu ghép với cấu trúc có hoặc không sử dụng cặp quan hệ từ chỉ quan hệ nguyên nhân – kết quả. Hay theo cách khác, quan hệ nhân quả vẫn tồn tại ở hai câu đơn liền nhau và trật tự xuất hiện thông tin tương đương với trật tự của hai mệnh đề trong câu ghép có chứa quan hệ nhân quả. Ví dụ, người Việt khi đi chợ nếu mua thêm vì rẻ sẽ thường nói “X này rẻ nhỉ, cho tôi lấy thêm nhé!” thay vì “Cho tôi lấy thêm X vì nó rẻ quá!”. Tiếp đến, khi khảo sát thêm về cấu trúc câu người Việt thường sử dụng, chúng tôi có thể thấy diễn đạt sử dụng mệnh đề giả thiết – kết luận, trật tự xuất hiện của câu thường thấy đó là “Nếu A thì B”, ít thấy trường hợp “B nếu A”. Ví dụ, trong tình huống cô y tế ở trường học nói với một học sinh bị đau bụng đang nằm ở phòng y tế, cô ấy nói: “Nếu cơn đau bụng không giảm đi thì cô sẽ đưa em đi viện nhé!”. Thêm một ví dụ nữa, thay vì nói “Có phiền cậu không nếu tớ bật quạt mạnh hơn?”, bạn học sinh sẽ hỏi “Nếu tớ bật quạt mạnh hơn có phiền cậu không?”.

Thêm nữa, do yêu cầu tốc độ trong việc truyền thông tin khi giao tiếp, người Việt ưu tiên lối diễn đạt đơn giản, ngắn gọn, lược bỏ những từ ngữ không cần thiết trong khi tạo câu. Học sinh thường nói “Hơn mười năm xa trường, tôi vẫn nhớ những kỉ niệm thời đi học.” thay vì nói “Kể từ lúc xa trường cũng đã hơn mười năm, những kỉ niệm vẫn in sâu trong tâm trí tôi.”. Có thể thấy, sự khác biệt trong việc dùng câu khi viết và khi nói là khá lớn. Theo đó, hệ thống bài tập câu cần tạo tình huống cho người học luyện tập cách diễn đạt câu tiếng Việt theo tư duy, thói quen dùng của người Việt.

Tuy nhiên, khi nhìn vào quá trình giao tiếp, mọi người đều có ý nhấn mạnh nội dung nào đó trong phát ngôn của mình. Vấn đề diễn đạt đúng tình huống, đạt mục đích luôn được chú trọng nên cấu trúc câu cũng được người Việt điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, mong muốn. Nó được thay đổi làm nổi bật ý chính hay tăng tính liên kết giúp việc diễn đạt trở nên chặt chẽ. Hầu hết, bằng phương thức trật tự từ, người tạo câu sẽ đưa lên vị trí đầu câu nội dung thông tin trọng tâm muốn người nghe nắm bắt, chú ý. Chẳng hạn, cô giáo thường nhắc nhở học sinh chăm học bằng cách dặn dò: “Nếu các con học tập chăm ngoan, thầy cô nhất định sẽ tạo điều kiện cho con!”. Trong lời nói này, giáo viên đã nhấn mạnh vào ý “học tập chăm ngoan”.

Cuối cùng, khi nói về tạo câu trong giao tiếp của người Việt, chúng ta không thể không nhắc tới thói quen sử dụng linh hoạt thành ngữ, tục ngữ trong diễn đạt câu. Đã từ lâu, người Việt xem việc dùng thành ngữ, tục ngữ như một cách nói hình ảnh tạo sự chú ý và nhấn mạnh. Theo PGS.TS. Hoàng Kim Ngọc, sử dụng thành ngữ tục ngữ một cách sáng tạo qua việc cải biên về mặt nào đó đã góp phần làm tăng tính hiệu quả khi giao tiếp…. Nếu chúng ta biết vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách thích hợp với sự kiện thì bài viết sẽ trở nên độc đáo, cô đọng, đắt hơn so với cách sử dụng các tổ hợp thông thường. Cách dùng câu này xuất hiện rất nhiều trong đời sống giao tiếp thường ngày. Một bác bán hàng nói với khách hàng là một học sinh: Sao cháu ngồi lửng lơ con cá vàng thế! với ngụ ý vừa phê bình cách bạn đó ngồi giữa lối đi vừa nhắc nhở bạn ấy ngồi gọn lại. Như thế, câu nói có sử dụng thành ngữ sẽ có hiệu quả giao tiếp cao hơn bởi diễn ngôn gây chú ý đối với người nghe lại đồng thời đảm bảo tính lịch sự, giữ thể diện cho người nghe. Văn hóa giao tiếp sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của người Việt cũng đã đặt ra yêu cầu đối với chúng tôi khi xây dựng bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng câu theo quan điểm giao tiếp cho học sinh nước ngoài. Có thể nói, thành ngữ, tục ngữ xuất hiện trong các bài tập về câu sẽ giúp các em hiểu thêm về đời sống văn hóa, con người Việt Nam thông qua nghĩa của chúng. Như thế, rèn luyện tạo lập câu với thành ngữ, tục ngữ là một hoạt động ý nghĩa vừa củng cố việc giao tiếp như người bản ngữ, vừa thiết lập tư duy kiểu người Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt.

Bài viết khác